MỘT SỐ ĐIỂM MỚI ĐÁNG LƯU Ý VỀ THUẾ GTGT TỪ 01/07/2025
MỘT SỐ ĐIỂM MỚI ĐÁNG LƯU Ý VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ GTGT THEO LUẬT THUẾ GTGT 2024 VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT THUẾ GTGT 2024
(Có hiệu lực từ 01/07/2025)
Căn cứ Luật thuế GTGT số 48/2024/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2024, Nghị định 181/2025/NĐ-CP này 01/07/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế GTGT và Thông tư 69/2025/TT-BTC ngày 01/07/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật thuế GTGT và hướng dẫn thực hiện Nghị định 181/2025/NĐ-CP, Công ty Luật hợp danh VN CONSULT xin gửi tới Quý doanh nghiệp nội dung cập nhật một số thay đổi đáng lưu ý. Cụ thể:
- Bổ sung quy định về Người nộp thuế
Điều 4 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (Luật Thuế GTGT 2024) bổ sung thêm Người nộp thuế:
- Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài); tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài.
- Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay, kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số.
(Khoản 4, 5 Điều 4 Luật thuế GTGT 2024)
- Đối tượng không chịu thuế GTGT
Tại Điều 5 Luật Thuế GTGT 2024 điều chỉnh các quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT so với Điều 5 Luật Thuế GTGT 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành như sau:
- Sửa đổi đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
- Lược bỏ một số đối tượng không chịu thuế GTGT so với quy định Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, bao gồm:
- Phân bón; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; tàu đánh bắt xa bờ;
- Lưu ký chứng khoán; dịch vụ tổ chức thị trường của sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán; hoạt động kinh doanh chứng khoán khác…
- Bỏ quy định: Doanh nghiệp, hợp tác xã mua sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
- Sửa đổi sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác không chịu thuế GTGT phải áp dụng theo Danh mục do Chính phủ quy định. Trong khi Luật thuế GTGT 2008 và văn bản hướng dẫn trước đây quy định sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Theo quy định tại Khoản 14 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, Danh mục sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT được quy định tại Phụ lục II.
- Bổ sung hàng hóa nhập khẩu ủng hộ, tài trợ cho phòng chống thiên tai, thảm họa dịch bệnh, chiến tranh theo quy định của Chính phủ là đối tượng không chịu thuế GTGT.
- Nâng mức doanh thu hàng năm không chịu thuế GTGT của hộ, cá nhân kinh doanh từ 100 triệu đồng lên 200 triệu đồng. Riêng quy định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
- Sửa đổi, bổ sung khác
- Cụm từ “Phần mềm máy tính” thuộc đối tương không chịu thuế GTGT được thay thế bằng “sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật”
(Lưu ý: Theo quy định tại Khoản 21 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC về thuế GTGT thì “Phần mềm máy tính bao gồm sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật”. Như vậy, quy định tại Luật thuế GTGT 2024 không phải nội dung mới mà chỉ thay đổi thuật ngữ nhằm diễn giải đúng, rõ ràng hơn).
- Đối với hoạt động “chuyển nhượng vốn” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, làm rõ, không bao gồm “Chuyển nhượng vốn không bao gồm chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc bán tài sản”. Như vậy, với sự thay đổi này, hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư thuộc đối tượng chịu thuế GTGT/phải kê khai, nộp thuế GTGT
(Lưu ý: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC, Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, hợp tác xã không phải kê khai, nộp thuế GTGT).
- Sửa đổi, bổ sung quy định giá tính thuế
Sửa đổi, bổ sung việc xác định giá tính thuế của một số loại hàng hóa dịch vụ (Điều 7 Luật thuế GTGT 2024)
- Điều chỉnh thuế suất của một số hàng hóa, dịch vụ
Tại Điều 9 Luật Thuế GTGT 2024, thuế suất của một số hàng hóa, dịch vụ được điều chỉnh, như sau:
(i) Bổ sung thêm một số đối tượng áp dụng thuế suất 0%
- Dịch vụ xuất khẩu gồm: Dịch vụ cho thuê phương tiện vận tải được sử dụng ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam; Dịch vụ của ngành hàng không, hàng hải cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế hoặc thông qua đại lý; Sản phẩm nội dung thông tin số cung cấp cho bên nước ngoài và có hồ sơ, tài liệu chứng minh tiêu dùng ở ngoài Việt Nam
(Lưu ý: Sản phẩm nội dung thông tin số được diễn giải theo quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 17 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, Khoản 11 Điều 13 và Khoản 2 Điều 10 Nghị định 71/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật công nghệ thông tin).
(ii) Các sản phẩm không chịu thuế chuyển sang chịu thuế 5%, sửa đổi, bổ sung đối tượng chịu thuế suất 5%
- Phân bón;
- Tàu đánh bắt xa bờ; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
(Lưu ý: Các sản phẩm trên, theo Khoản 3 (a) Điều 5 Luật thuế GTGT 2008; Khoản 1 (c) Điều 3 Nghị định 209 thuộc đối tượng ko chịu thuế GTGT – Nay thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5%)
- Bổ sung Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này vào nhóm thuế suất 5% (Khoản 2 (d) Điều 9 Luật thuế GTGT 2024). Như vậy, có nghĩa là trừ Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu (quy định tại Khoản 1 Điều 5), Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở các khâu kinh doanh khác, chịu thuế GTGT 5%.
(Lưu ý: Theo Luật thuế GTGT, nhóm đối tượng chịu thuế GTGT 5% không còn đề cập đến nhóm “thực phẩm tươi sống”. Tuy nhiên, nhóm “thực phẩm tươi sống” được bao hàm trong nhóm Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường. Nếu thuộc trường hợp của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT (Khoản 1 Điều 5 Luật thuế GTGT 2024), nếu ở các khâu khác, thuế GTGT 5%).
(iii) Các sản phẩm áp dụng thuế suất 5% chuyển sang 10%
- Lâm sản chưa qua chế biến;
- Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía, bã bùn;
- Dụng cụ chuyên dùng cho giảng dạy, nghiên cứu, thí nghiệm khoa học;
(Lưu ý: Thiết bị dùng để giảng dạy và học tập bao gồm: các loại mô hình, hình vẽ, bảng, phấn, thước, com-pa – Vẫn thuộc nhóm hàng hóa thuế suất 5% (Điểm i khoản 2 Điều 9 Luật thuế GTGT)
- Hoạt động văn hóa, triển lãm, thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim.
- Thuế suất 10%
Luật thuế GTGT 2024 vẫn quy định theo nguyên tắc: Hàng hóa, dịch vụ không thuộc đối tượng không chịu thuế, không thuộc đối tượng thuế suất 0%, 5% thì thuộc đối tượng thuế suất thuế GTGT 10%. Tuy nhiên, Luật thuế GTGT 2024 quy định rõ: Dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số thuộc đối tượng chịu thuế suất thuế GTGT 10%
- Kê khai thuế bổ sung, điều chỉnh
Khoản 1 Điều 14 Luật Thuế GTGT 2024 quy định cụ thể về việc kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào trong trường hợp có sai sót, cụ thể:
Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai, sót thì được khai thuế trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế như sau:
- Khai vào kỳ phát sinh trong trường hợp việc khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp hoặc giảm số thuế được hoàn; người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế phải nộp tăng thêm hoặc bị thu hồi số tiền thuế đã được hoàn tương ứng và nộp tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước (nếu có).
- Khai vào kỳ phát hiện trong trường hợp việc khai bổ sung làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chỉ làm tăng hoặc giảm số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ chuyển sang tháng, quý sau.
(Lưu ý: Vấn đề này trước đây không quy định cụ thể ở Luật thuế GTGT và vb hướng dẫn thi hành mà thực hiện theo quy định tại Điều 47 Luật QL thuế; Khoản 4 Điều 7 Nghị định 126/2020/NĐ-CP. Từ ngày 01/07/2025 (Luật thuế GTGT có hiệu lực), việc kê khai điều chỉnh số thuế GTGT đầu vào bị sai sót, thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật thuế GTGT 2024, Khoản 6 Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP).
- Sửa đổi, bổ sung điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào
- Thay đổi quy định về ngưỡng thanh toán tiền mặt: Theo quy định trước đây, hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng thì không cần có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; Theo quy định tại Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng.
- Thay đổi quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cụ thể:
Điểm g Khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định:“g) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng”.
Căn cứ quy định trích dẫn trên, từ ngày 01/07/2025, Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
(VNC đã có bài viết riêng, phân tích về vấn đề này gửi Quý Khách hàng qua email ngày 07/11/2025).
- Bổ sung thêm trường hợp hoàn thuế GTGT
Điều 15 Luật Thuế GTGT 2024 quy định rõ:
- Hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư, bao gồm dự án đầu tư mở rộng và dự án đầu tư mở rộng, có số thuế GTGT đầu vào phát sinh trong giai đoạn đầu tư, chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên.
- Hoàn thuế GTGT đối với xuất khẩu: Bổ sung quy định hàng hoá đã nhập khẩu sau đó xuất khẩu sang nước khác không thuộc trường hợp được hoàn thuế.
(Lưu ý: Theo quy định tại Khoản 1 (b) Điều 29 Nghị định 181/2025/NĐ-CP: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu sang nước khác là hàng hóa do cơ sở kinh doanh nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam sau đó trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu, không bao gồm hàng hóa là nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu).
- Bổ sung quy định về hoàn thuế GTGT đối với Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên sau 12 tháng liên tục hoặc 04 quý liên tục.
- Bỏ quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách. Theo quy định của Luật thuế GTGT 2024 chỉ hoàn thuế GTGT khi giải thể, phá sản.
Tài liệu này nhằm mang đến cho Doanh nghiệp những thông tin tổng quát về một số điểm mới của Luật thuế GTGT và văn bản hướng dẫn thi hành. Tài liệu này không được xem như ý kiến tư vấn pháp luật về một trường hợp, vấn đề cụ thể.
Trường hợp Doanh nghiệp có nhu cầu được giải đáp, làm rõ thêm chi tiết, vui lòng liên hệ lại với VN CONSULT.
Trân trọng!
Bài viết thể hiện quan điểm của VN CONSULT đối với vấn đề pháp lý được đề cập, không phải là ý kiến tư vấn pháp lý cho một trường hợp, tình huống cụ thể
Chi tiết vui lòng liên hệ
CÔNG TY LUẬT HỢP DANH VN CONSULT
Phòng 703 Tầng 7 Tòa nhà Ford Thăng Long, 105 P.Láng Hạ, Phường Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
Tel: 0903 236 646 (Ms. Thu Hằng)
