BẢN TIN PHÁP LUẬT SỐ 02-07/2016
BẢN TIN PHÁP LUẬT SỐ 02-07/2016
LĨNH VỰC THUẾ
1. Thông tư số 83/2016/TT-BTC ngày 17/6/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện ưu đãi đầu tư quy định tại Luật đầu tư số 67/2014/QH13 và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư.
Thông tư này hướng dẫn áp dụng chính sách ưu đãi thuế TNDN, thuế nhập khẩu và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với các dự án đầu tư thuộc đối tượng ưu đãi theo quy định của Luật đầu tư 67/2014/QH13 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP.
Theo đó, việc áp dụng ưu đãi thuế TNDN đối với các dự án ưu đãi đầu tư được thực hiện theo các quy định tương ứng của pháp luật thuế TNDN. Điểm đáng lưu ý tại Thông tư này là trong khi dự án sản xuất các hàng hóa chịu TTĐB khác không được ưu đãi thuế TNDN thì dự án đầu tư mới sản xuất xe ô tô dưới 24 chỗ vẫn được xét hưởng ưu đãi thuế, ngoại trừ ưu đãi về lĩnh vực (khoản 7 Điều 4).
Về ưu đãi thuế nhập khẩu, theo Điều 5 Thông tư này, các dự án sau đây không được xét miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu tạo TSCĐ: dự án sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, điều hòa, máy sưởi điện, tủ lạnh, máy giặt, quạt điện, máy rửa bát đĩa, đầu đĩa, dàn âm thanh, bàn là điện, ấm đun nước, máy sấy khô tóc, làm khô tay và những mặt hàng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Tuy nhiên, đối với các dự án đầu tư được ưu đãi thuế nhập khẩu đầu tư về khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, nhà ở, trung tâm thương mại, dịch vụ kỹ thuật, siêu thị, sân golf, khu du lịch, khu thể thao, khu vui chơi giải trí, cơ sở khám, chữa bệnh, đào tạo, văn hóa, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, dịch vụ tư vấn thì được xét miễn thuế nhập khẩu lần đầu các trang thiết bị tạo TSCĐ.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016
2. Công văn số 42614/CT-HTr ngày 24/6/2016 của Cục Thuế TP. Hà Nội về thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn.
Theo hướng dẫn tại Công văn 8817/BTC-TCT ngày 8/7/2013, thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần được xác định là thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
Theo đó, trường hợp Công ty có cổ đông là cá nhân thực hiện chuyển nhượng cổ phần của mình thì đây thuộc thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, phải kê khai nộp thuế TNCN theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần
Trường hợp cổ đông chuyển nhượng cổ phần đã đăng ký thuế, đã có MST và xác định được thu nhập tính thuế của từng loại chứng khoán theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 11 Thông tư 111/2013/TT-BTC thì được quyết toán lại theo cách tính thuế bằng thuế suất 20% nhân với thu nhập tính thuế.
3. Công văn số 2694/TCT-CS ngày 17/6/2016 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 218/2013/NĐ-CP , các dự án đầu tư mới được chuyển mức ưu đãi từ thuế suất 20% sang 17% kể từ ngày 1/1/2016 chỉ bao gồm các dự án sau:
a) Dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn
b) Dự án đầu tư mới trong các lĩnh vực: Sản xuất thép cao cấp; sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; sản xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất, tinh chế thức ăn chăn nuôi; phát triển ngành nghề truyền thống.
Theo đó, trường hợp doanh nghiệp có dự án đầu tư đang được hưởng thuế suất ưu đãi 20% nhưng ngành nghề kinh doanh là sản xuất dược phẩm (không thuộc những lĩnh vực ưu đãi kể trên) thì không được chuyển sang áp dụng thuế suất 17% kể từ ngày 1/1/2016.
4. Công văn số 2872/TCT-TNCN ngày 27/6/2016 của Tổng cục Thuế về thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là nhà ở, đất ở duy nhất.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, một trong những điều kiện miễn thuế TNCN đối với nhà ở, đất ở duy nhất là phải có thời gian sở hữu tính đến thời điểm chuyển nhượng tối thiểu 183 ngày.
Theo đó, trường hợp cá nhân chuyển nhượng nhà đất duy nhất được hưởng thừa kế chưa đủ 183 ngày thì không được miễn thuế TNCN.
LAO ĐỘNG
5. Thông tư số 07/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2016 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định một số nội dung tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Thông tư này quy định việc tổ chức đánh giá nguy cơ rủi ro, tự kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết về công tác an toàn, vệ sinh lao động (VSLĐ) đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Theo quy định mới tại Thông tư này, doanh nghiệp nếu hoạt động trong các ngành, nghề có nguy cơ cao về TNLĐ, BNN liệt kê dưới đây thì bắt buộc phải tổ chức đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn, VSLĐ và đưa vào trong nội quy, quy trình làm việc, bao gồm:
- Khai khoáng, sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế
- Sản xuất hóa chất, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic
- Sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại
- Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại
- Thi công công trình xây dựng
- Đóng và sửa chữa tàu biển
- Sản xuất, truyền tải và phân phối điện
- Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản
- Sản xuất sản phẩm dệt, may, da, giày
- Tái chế phế liệu
- Vệ sinh môi trường
Thời điểm tổ chức đánh giá gồm: đánh giá lần đầu trước khi bắt đầu hoạt động SXKD; đánh giá định kỳ hàng năm và đánh giá bổ sung (áp dụng khi thay đổi về nguyên liệu, công nghệ, tổ chức sản xuất hoặc khi xảy ra TNLĐ).
Ngoài ra, tương tự quy định cũ, doanh nghiệp cũng phải tổ chức công tác tự kiểm tra an toàn, VSLĐ định kỳ. Tuy nhiên, nếu như trước đây mọi doanh nghiệp đều phải tự kiểm tra định kỳ 06 tháng/lần ở cấp cơ sở và 03 tháng/lần ở cấp phân xưởng, tổ, đội thì nay thời hạn này chỉ bắt buộc đối với 11 ngành, nghề có nguy cơ cao nêu trên. Riêng những ngành, nghề khác thì được tự kiểm tra định kỳ 01 năm/lần ở cấp cơ sở và 06 tháng/lần ở cấp phân xưởng, tổ, đội.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 và thay thế Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 10/01/2011.6.
6. Thông tư số 08/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2016 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc thu thập, lưu trữ, tổng hợp, cung cấp, công bố, đánh giá về tình hình tai nạn lao động và sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng
Tương tự quy định cũ, mọi doanh nghiệp đều phải tổ chức thu thập, lưu trữ thông tin và mở sổ thống kê về tình hình tai nạn lao động (TNLĐ) xảy ra tại cơ sở của mình.
Ngoài ra, theo quy định mới tại Thông tư này, định kỳ 06 tháng và hằng năm, doanh nghiệp còn phải thực hiện đánh giá, công bố tình hình TNLĐ cho người lao động được biết. Thời hạn công bố thông tin là trước ngày 10/7 đối với số liệu 06 tháng và trước ngày 15/1 năm sau đối với số liệu cả năm (Điều 4).
Về cách thức công bố thông tin, ngoài việc niêm yết công khai tại trụ sở, tổ đội, phân xưởng, còn phải đăng tải trên website của doanh nghiệp (khoản 1 Điều 4).
Thông tin công bố tối thiểu phải có các nội dung sau: số vụ TNLĐ, số vụ TNLĐ chết người; số người bị TNLĐ, số người bị chết do TNLĐ; nguyên nhân chủ yếu xảy ra tai nạn; thiệt hại do TNLĐ; sự biến động (về số lượng, tỷ lệ) so với cùng thời kỳ hoặc giai đoạn báo cáo; phân tích nguyên nhân biến động và hiệu quả của các biện pháp phòng chống TNLĐ (khoản 6 Điều 4).
Đối với sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng, việc thu thập, lưu trữ, tổng hợp, cung cấp, đánh giá, công bố thông tin thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 và thay thế Thông tư liên tịch số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 21/5/2012
XUẤT NHẬP KHẨU
7. Thông tư số 12/2016/TT-BCT ngày 5/7/2016 của Bộ Công thương về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 41/2012/TT-BCT ngày 21/12/2012 quy định về xuất khẩu khoáng sản
Thông tư này ban hành Danh mục và tiêu chuẩn chất lượng khoáng sản xuất khẩu để thay thế Danh mục cũ ban hành tại Thông tư số 41/2012/TT-BCT
Ngoài ra, theo quy định bổ sung tại Thông tư này, đối với khoáng sản xuất khẩu mà trong thành phần chứa thori, urani bằng hoặc lớn hơn 0,05% tính theo trọng lượng thì ngoài việc đảm bảo các điều kiện chung còn phải xin giấy phép xuất khẩu vật liệu phóng xạ của Bộ Khoa học và Công nghệ theo quy định của Luật Năng lượng nguyên tử.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/8/2016.
TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
8. Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Nghị định này quy định chi tiết về điều kiện kinh doanh đối với các ngành nghề, bao gồm:
- Khoan nước dưới đất
- Điều tra cơ bản tài nguyên nước, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước; tư vấn lập đề án, báo cáo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tài nguyên nước.
- Thăm dò khoáng sản
- Kinh doanh chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải
- Kinh doanh vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất độc hại, chất lây nhiễm thuộc loại 6
- Xử lý chất thải nguy hại
Theo đó, khi vận chuyển các chất độc hại, chất lây nhiễm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ với khối lượng bằng hoặc vượt ngưỡng khối lượng quy định tại cột 6 Phụ lục III Nghị định này, doanh nghiệp bắt buộc phải xin Giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm.
Trường hợp vận chuyển từng loại hàng nguy hiểm có khối lượng không vượt ngưỡng quy định nhưng tổng khối lượng của các chất độc hại, chất lây nhiễm trên cùng một phương tiện giao thông cơ giới đường bộ lớn hơn 01 tấn/chuyến thì cũng phải xin Giấy phép vận chuyển (khoản 1 Điều 26).
Đối với những trường hợp vận chuyển chất độc hại, chất lây nhiễm với khối lượng dưới ngưỡng quy định hoặc vận chuyển bằng phương tiện giao thông đường thủy nội địa, đường sắt tuy được miễn Giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm nhưng phải có kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường và phải tuân thủ các điều kiện vận chuyển theo Nghị định này (khoản 2 Điều 26).
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
Y DƯỢC
9. Nghị định số 67/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế.
Nghị định này quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế, bao gồm: thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng; phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm và nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, nước đá dùng liền.
Theo Nghị định này, việc kinh doanh thực phẩm chức năng trong cơ sở bán lẻ thuốc phải đảm bảo bố trí được khu bày bán riêng và phải có chỉ dẫn khu vực, biển tên cho sản phẩm (khoản 3 Điều 9).
Đối với phụ gia, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chỉ được sản xuất các mặt hàng đã được phép sử dụng tại Việt Nam (khoản 3 Điều 10).
Việc bảo quản, bày bán phụ gia, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm phải được thực hiện tại khu vực riêng trong cơ sở kinh doanh thực phẩm và phải có chỉ dẫn khu vực, đầy đủ biển tên cho nhóm sản phẩm. Ngoài ra, trong cùng một cơ sở kinh doanh, tuyệt đối không được bày bán phụ gia, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm với các hóa chất dùng cho mục đích khác hoặc sản phẩm không phải là thực phẩm (khoản 3 Điều 11).
Đối với phụ gia thực phẩm bán lẻ phải được ghi nhãn đầy đủ theo quy định đối với đơn vị đóng gói nhỏ nhất đã được công bố hợp quy (khoản 4 Điều 11).
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
10. Nghị định số 36/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế.
Nghị định này quy định chi tiết một số nội dung liên quan đến trang thiết bị y tế, bao gồm: phân loại trang thiết bị y tế; ưu đãi đầu tư đối với dự án sản xuất trang thiết bị y tế; điều kiện sản xuất, lưu hành, buôn bán, xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế; công bố tiêu chuẩn áp dụng, ghi nhãn, kiểm định, hiệu chuẩn trang thiết bị y tế.
Theo đó, các cơ sở sau đây bắt buộc phải làm thủ tục công bố đủ điều kiện thực hiện trước khi đi vào hoạt động: cơ sở cung ứng dịch vụ phân loại trang thiết bị y tế; cơ sở sản xuất, mua bán trang thiết bị y tế; cơ sở cung ứng dịch vụ tư vấn, kiểm định, hiệu chuẩn trang thiết bị y tế.
Về công bố tiêu chuẩn áp dụng và đăng ký lưu hành trang thiết bị y tế, có 03 trường hợp được miễn, bao gồm (Điều 19): (i) chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, thử nghiệm, hướng dẫn sử dụng, sửa chữa; (ii) nhập khẩu với mục đích viện trợ hoặc để tham dự hội chợ, triển lãm, trưng bày, giới thiệu sản phẩm hoặc làm quà biếu, tặng; (iii) trang thiết bị y tế sản xuất chỉ với mục đích xuất khẩu hoặc tham gia trưng bày, hội chợ, triển lãm ở nước ngoài.
Về xuất, nhập khẩu trang thiết bị y tế, nếu thuộc loại đã có số lưu hành tại Việt Nam thì được xuất, nhập khẩu theo nhu cầu, không bị hạn chế số lượng và miễn xin phép Bộ Y tế (Điều 40).
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 và thay thế khoản 10 Điều 12 Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006.
11. Công văn số 11938/QLD-MP ngày 27/6/2016 của Bộ Y tế về việc ghi nhãn mỹ phẩm
Hiện nay, nguyên tắc “ghi nhãn mỹ phẩm” được quy định cụ thể tại Thông tư số 06/2011/TT-BYT ngày 25/01/2011.
Theo đó, tên đầy đủ của sản phẩm mỹ phẩm phải được ghi theo trình tự như sau: tên nhãn hàng, dòng sản phẩm (nếu có), tên sản phẩm. Nếu mỹ phẩm chỉ có một màu riêng lẻ được công bố thì ghi tên màu và số màu; nếu có nhiều màu thì tên và số màu của mỗi màu đều phải được công bố (Phụ lục số 02-MP).
Về nguyên tắc, tên mỹ phẩm ghi trên nhãn phải đúng với tên mỹ phẩm ghi trên Phiếu công bố. Trường hợp nhãn mỹ phẩm có ghi thêm những nội dung khác chưa đề cập trên Phiếu công bố thì phải đảm bảo trung thực, chính xác, không gây hiểu lầm cho người tiêu dùng về bản chất của hàng hóa và xuất xứ hàng hóa.
NGÂN HÀNG
12. Nghị định số 57/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 10/2010/NĐ-CP ngày 12/2/2010 của Chính phủ Về hoạt động thông tin tín dụng
Nghị định này sửa đổi, bổ sung về điều kiện cấp Giấy chứng nhận hoạt động thông tin tín dụng (là hoạt động cung cấp thông tin liên quan của khách hàng vay tại tổ chức cấp tín dụng).
Theo đó, so với quy định cũ, Nghị định này có bổ sung thêm điều kiện liên quan đến hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Cụ thể doanh nghiệp hoạt động thông tin tín dụng phải có tối thiểu 02 đường truyền số liệu, trong đó mỗi đường truyền được cung cấp bởi 01 nhà cung cấp dịch vụ để đảm bảo duy trì việc truyền đưa liên tục thông tin số.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
13. Thông tư số 14/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2014/TT-NHNN ngày 06/11/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về ủy thác và nhận ủy thác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và bãi bỏ một số điều của Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Thông tư này bổ sung khoản 11 vào Điều 4 Thông tư số 30/2014/TT-NHNN nhằm quy định thêm một nguyên tắc liên quan đến việc nhận ủy thác đầu tư dự án sản xuất, kinh doanh của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng.
Theo đó, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được nhận vốn ủy thác của khách hàng để đầu tư vào dự án sản xuất, kinh doanh, cho thuê tài chính, cho vay nếu đảm bảo tại thời điểm ủy thác, bên ủy thác không có dư nợ vay tại các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Ngoài ra, Thông tư này còn bãi bỏ một số quy định sau đây:
– Điều 8 Thông tư số 30/2014/TT-NHNN về điều kiện ủy thác, nhận ủy thác đầu tư vốn của ngân hàng
– Mục 1 Chương II Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN
– Khoản 3 Điều 1 Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 và bãi bỏ khoản 3 Điều 1 Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008
14. Thông tư số 18/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/6/2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Thông tư này sửa đổi Điều 2 Thông tư số 21/2012/TT-NHNN nhằm bổ sung quy định cho phép Ngân hàng chính sách được thực hiện các hoạt động cho vay, đi vay, mua, bán giấy tờ có giá liên ngân hàng
Ngoài ra, theo sửa đổi khoản 2 Điều 4, đối với ngân hàng có khoản nợ quá hạn từ 10 ngày trở lên nếu thuộc các trường hợp dưới đây thì vẫn được phép đi vay liên ngân hàng:
(i) Ngân hàng được kiểm soát đặc biệt được thực hiện giao dịch đi vay theo Phương án kiểm soát đặc biệt đã được phê duyệt;
(ii) Ngân hàng đang trong quá trình tái cơ cấu được thực hiện giao dịch đi vay theo Phương án tái cơ cấu tổ chức và hoạt động đã được NHNN phê duyệt (nếu có).
Về lãi suất cho vay áp dụng đối với số tiền lãi vay chậm trả, theo bổ sung tại Thông tư này thì mức lãi suất trả chậm không được vượt quá 10%/năm.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/8/2016.
Bãi bỏ khoản 3 Điều 1 và đoạn “b) Tại thời điểm thực hiện giao dịch nhận tiền gửi, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được có các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày trở lên tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác, trừ trường hợp được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép nhận tiền gửi” tại điểm b khoản 13 Điều 1 Thông tư số 01/2013/TT-NHNN ngày 07/01/2013.
15. Thông tư số 22/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp.
Thông tư này quy định về nguyên tắc, điều kiện mua trái phiếu doanh nghiệp của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
“Trái phiếu doanh nghiệp” được hiểu là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu.
Một trong những điểm mới có lợi của Thông tư này (Điều 5) là cho phép ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được mua lại trái phiếu doanh nghiệp từ các pháp nhân, cá nhân, thay vì quy định cũ tại Thông tư 28/2011/TT-NHNN chỉ cho phép mua trái phiếu từ chính doanh nghiệp phát hành.
Tuy nhiên, Thông tư này lại bổ sung quy định cấm các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp bằng nguồn vốn vay từ các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng khác (khoản 5 Điều 3).
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016 và thay thế Thông tư số 28/2011/TT-NHNN ngày 01/9/2011.
16. Thông tư số 13/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 45/2011/TT-NHNN ngày 30/12/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của tổ chức tín dụng.
Thông tư này sửa đổi, bổ sung một số quy định về hoạt động cho vay ra nước ngoài của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng, cụ thể liên quan đến:
– Tài khoản cho vay, thu hồi nợ nước ngoài
– Trách nhiệm của ngân hàng có hoạt động cho vay ra nước ngoài
– Đồng tiền cho vay, thu hồi nợ nước ngoài
– Thời hạn đăng ký khoản cho vay, đăng ký thay đổi khoản cho vay ra nước ngoài
– Hồ sơ đăng ký khoản cho vay, đăng ký thay đổi khoản cho vay ra nước ngoài
– Cơ sở xem xét xác nhận đăng ký, đăng ký thay đổi khoản cho vay ra nước ngoài
Theo đó, một trong những sửa đổi quan trọng của Thông tư này là cho phép ngân hàng và bên vay nước ngoài được thỏa thuận đồng tiền trả nợ khác với đồng tiền cho vay (khoản 5 Điều 1).
Tuy nhiên, về tài khoản cho vay, thu hồi nợ nước ngoài, theo sửa đổi tại Thông tư này thì phải là tài khoản thanh toán. Ngoài ra, nếu tổ chức tín dụng cho vay ra nước ngoài không phải là ngân hàng thương mại thì bắt buộc phải mở tài khoản tại 01 ngân hàng khác để thực hiện mọi giao dịch liên quan đến cho vay, thu hồi nợ nước ngoài (khoản 10 Điều 1).
Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 30/6/2016. Bãi bỏ Điều 7 Thông tư số 45/2011/TT-NHNN
Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, Điều 8 Thông tư số 29/2015/TT-NHNN ngày 22/12/2015 hết hiệu lực thi hành.
17. Thông tư số 21/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/3/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Thông tư này bổ sung khoản 9 Điều 5 Thông tư 04/2013/TT-NHNN nhằm quy định thêm điều kiện đối với các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá.
Theo đó, các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ để thực hiện hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác phù hợp với quy định tại Thông tư này, Luật Các tổ chức tín dụng và pháp luật có liên quan.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Bãi bỏ khoản 2 Điều 2 và Điều 4 Thông tư số 04/2013/TT-NHNN
CHỨNG KHOÁN
18. Quyết định số 1423/QĐ-BTC ngày 24/6/2016 của Bộ Tài chính về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành trong lĩnh vực chứng khoán thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài chính
Các thủ tục hành chính hướng dẫn tại Quyết định này gồm có:
- Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh.
- Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh.
- Đề nghị chấp thuận chấm dứt hoạt động kinh doanh chứng khoán phái sinh tự nguyện.
- Đề nghị chấp thuận chấm dứt hoạt động cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh tự nguyện.
- Thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh sau báo cáo kết quả thực hiện thủ tục chấm dứt hoạt động kinh doanh chứng khoán phái sinh.
- Thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh sau báo cáo kết quả thực hiện thủ tục chấm dứt hoạt động cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh.
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG
19. Thông tư số 16/2016/TT-BTTTT ngày 28/6/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền Internet được cấp không thông qua đấu giá
Thông tư này hướng dẫn về điều kiện và quy trình chuyển nhượng tên miền “.vn” được cấp không thông qua đấu giá
Theo đó, tên miền “.vn” chỉ được chuyển nhượng nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 33 Quyết định 38/2014/QĐ-TTg và không phải tên miền được bảo vệ quy định tại Điều 8 Thông tư 24/2015/TT-BTTTT.
Bên nhận chuyển nhượng tên miền “.vn” phải thuộc đối tượng được đăng ký, sử dụng tên miền theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 24/2015/TT-BTTTT.
Thủ tục chuyển nhượng tên miền “.vn” được thực hiện theo các trình tự như sau: bên chuyển nhượng nộp hồ sơ chuyển nhượng (theo mẫu) tại Nhà đăng ký “.vn” đang quản lý tên miền; nếu hồ sơ được chấp thuận, bên nhận chuyển nhượng làm thủ tục đăng ký lại tên miền theo Điều 5 Thông tư.
Tuy nhiên, những trường hợp sau đây sẽ bị dừng cho phép chuyển nhượng tên miền
- Các bên tham gia chuyển nhượng có hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài nguyên Internet;
- Tên miền Internet chuyển nhượng bị phát hiện đang trong quá trình giải quyết tranh chấp;
- rong quá trình chuyển nhượng, tên miền Internet chuyển nhượng bị phát hiện đang bị xử lý vi phạm, bị tạm ngừng hoạt động, bị yêu cầu buộc thay đổi thông tin, bị yêu cầu buộc trả lại hoặc bị thu hồi
- Có thông báo của cơ quan thuế về việc các bên tham gia chuyển nhượng có gian dối khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế;
- Có thông báo của cơ quan thuế về việc các bên tham gia chuyển nhượng chưa hoàn tất nghĩa vụ nộp thuế;
- Bên nhận chuyển nhượng không thực hiện nghĩa vụ nộp phí, lệ phí đăng ký sử dụng tên miền theo quy định;
- Bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng có văn bản đề nghị rút hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền Internet
Thậm chí, quyết định cho phép chuyển nhượng tên miền cũng sẽ bị hủy bỏ nếu Nhà đăng ký nhận được thông báo của cơ quan thuế về việc các bên tham gia chuyển nhượng chưa hoàn tất hoặc có gian dối khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15/8/2016.
20. Thông tư số 17/2016/TT-BTTTT ngày 28/6/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết về quy trình, thủ tục đăng ký cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động.
Theo Thông tư này, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động bắt buộc phải đăng ký với Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử.
“Cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động” được hiểu là việc doanh nghiệp thiết lập, sử dụng hệ thống thiết bị tại Việt Nam và kết nối với các doanh nghiệp viễn thông di động để cung cấp thông tin công cộng cho người sử dụng dịch vụ thông qua một trong các dịch vụ sau đây:
- Dịch vụ gọi tự do, là dịch vụ điện thoại trên mạng viễn thông di động mặt đất được cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng để cung cấp dịch vụ nội dung thông tin và có trách nhiệm thanh toán giá cước viễn thông thay cho người sử dụng dịch vụ.
- Dịch vụ gọi giá cao, là dịch vụ điện thoại trên mạng viễn thông di động mặt đất được cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng để cung cấp dịch vụ nội dung thông tin và yêu cầu người sử dụng dịch vụ, ngoài giá cước viễn thông theo quy định, phải thanh toán thêm một khoản giá cước để nhận được các nội dung thông tin theo yêu cầu.
- Dịch vụ ứng dụng tin nhắn ngắn, dịch vụ này được quy định tại khoản 17 Điều 3 Quy hoạch kho số viễn thông ban hành kèm Thông tư số 22/2014/TT-BTTTT.
- Các dịch vụ điện thoại và nhắn tin khác trên mạng viễn thông di động.
Thông tư này không điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ nội dung thông tin cho người sử dụng trên mạng viễn thông di động thông qua trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội, trò chơi điện tử và dịch vụ quảng cáo trên mạng viễn thông di động.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/8/2016.
Trong thời hạn 90 (chín mươi) ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, các tổ chức, doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ nội dung trên mạng viễn thông di động phải thực hiện thủ tục đăng ký cung cấp dịch vụ nội dung thông tin theo quy định tại Thông tư này.
XÂY DỰNG
21. Nghị định số 62/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện hoạt động giám định tư pháp xây dựng và thí nghiệm chuyên ngành xây dựng.
Nghị định này quy định về điều kiện năng lực đối với tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động giám định tư pháp xây dựng và điều kiện, thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng.
Theo đó, tổ chức giám định tư pháp xây dựng phải đáp ứng các điều kiện chung quy định tại Điều 19 Luật giám định tư pháp và một số điều kiện khác, tùy thuộc vào nội dung giám định.
Cụ thể, nếu thực hiện giám định về sự tuân thủ pháp luật xây dựng thì phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện một trong các công việc: quản lý dự án đầu tư xây dựng, kiểm định xây dựng, giám sát thi công xây dựng phù hợp với nội dung giám định.
Trường hợp giám định chất lượng khảo sát xây dựng hoặc thiết kế xây dựng công trình, tổ chức thực hiện phải có đủ điều kiện năng lực để thực hiện một trong các công việc: kiểm định xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thẩm tra thiết kế xây dựng theo quy định phù hợp với nội dung giám định.
Nếu giám định chất lượng vật liệu, sản phẩm xây dựng, thiết bị công trình, tổ chức thực hiện phải có đủ điều kiện năng lực để thực hiện một trong các công việc: kiểm định xây dựng, thiết kế xây dựng, thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, giám sát thi công xây dựng theo quy định phù hợp với nội dung giám định.
Nếu giám định tư pháp về chi phí đầu tư xây dựng công trình, giá trị công trình, tổ chức thực hiện phải có năng lực thực hiện một trong các công việc: kiểm định xây dựng, thiết kế xây dựng, giám sát thi công xây dựng, quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình theo quy định phù hợp với nội dung giám định.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.
22. Quyết định số 20/2016/QĐ-UBND ngày 24/6/2016 của UBND TP. Hà Nội quy định chi tiết một số nội dung về cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Quyết định này quy định về nguyên tắc cấp giấy phép xây dựng, điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp giấy phép xây dựng công trình, nhà ở trên địa bàn TP. Hà Nội.
Theo đó, một trong những điểm mới đáng lưu ý của Quyết định này là mở rộng quy mô công trình, nhà ở được cấp phép xây dựng tạm. Cụ thể, công trình, nhà ở xây dựng tạm được phép xây với chiều cao tối đa là 15m, thay vì quy định cũ chỉ cho phép tối đa 13m. Ngoài ra, về số tầng cũng được phép xây tối đa 4 tầng, đồng thời được xây dựng thêm mái tum với chiều cao tối đa 2,4m (khoản 2 Điều 4).
Tuy nhiên, theo quy định mới, các trường hợp sau đây chỉ được sửa chữa, cải tạo giữ nguyên quy mô công trình hiện trạng; không thay đổi vị trí, diện tích xây dựng, diện tích sàn từng tầng, chiều cao, số tầng và công năng sử dụng (khoản 3 Điều 4):
- Công trình, nhà ở riêng lẻ không phù hợp với quy hoạch phân khu xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện.
- Công trình và nhà ở không phù hợp với quy hoạch phòng chống lũ hoặc quy hoạch đê điều đồng thời không nằm trong khu vực đang sạt lở nguy hiểm hoặc có nguy cơ sạt lở nguy hiểm.
Quyết định có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 59/2013/QĐ-UBND ngày 19/12/2013.
GIAO THÔNG VẬN TẢI
23. Nghị định số 63/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới
Nghị định này quy định chi tiết về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới, bao gồm: ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự.
Theo đó, dịch vụ “kiểm định xe cơ giới” thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp chỉ được cung ứng dịch vụ này khi có giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định xe cơ giới (khoản 1 Điều 4).
Thêm nữa, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới không được là doanh nghiệp kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới hoặc có liên quan trực tiếp với doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề này
Trường hợp doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới là Công ty cổ phần thì các cổ đông là tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới chỉ được nắm giữ không quá 10% cổ phần (khoản 2 Điều 4).
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
24. Nghị định số 65/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe
Theo Nghị định này, cơ sở được cấp giấy phép đào tạo lái xe ô tô phải là cơ sở giáo dục nghề nghiệp (Điều 5).
Ngoài ra, về cơ sở vật chất kỹ thuật, phải có xe tập lái thuộc sở hữu của cơ sở. Tuy nhiên, có thể sử dụng xe hợp đồng thời hạn từ 1 năm trở lên với số lượng không quá 50% số xe sở hữu cùng hạng tương ứng của cơ sở đào tạo đối với xe tập lái các hạng B1, B2, C, D, E; xe tập lái hạng FC có thể sử dụng xe hợp đồng với thời hạn và số lượng phù hợp với nhu cầu đào tạo. Riêng xe hạng B1, B2 có số tự động được sử dụng xe hợp đồng không giới hạn.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
25. Nghị định số 70/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ về điều kiện cung cấp dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải.
Nghị định này quy định về điều kiện kinh doanh đối với các dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, bao gồm:
- Thiết lập, vận hành, duy trì, bảo trì báo hiệu hàng hải, luồng hàng hải và tuyến hàng hải
- Thông báo hàng hải
- Khảo sát phục vụ Thông báo hàng hải
- Điều tiết bảo đảm an toàn hàng hải
- Khảo sát, xây dựng và phát hành hải đồ vùng nước cảng biển, luồng hàng hải và tuyến hàng hải; xây dựng và phát hành tài liệu, ấn phẩm an toàn hàng hải
- Thông tin điện tử hàng hải
- Hoa tiêu hàng hải
- Thanh thải chướng ngại vật
- Nhập khẩu pháo hiệu hàng hải
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2017; riêng các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ nhập khẩu pháo hiệu hàng hải có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
Bãi bỏ Nghị định số 173/2007/NĐ-CP ngày 28/11/2007; Nghị định số 49/2011/NĐ-CP ngày 21/6/2011 và Thủ tục cấp giấy phép quy định tại Mục II Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013.
26. Nghị định số 64/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/2/2010 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Nghị định này sửa đổi quy định tại Điều 12 Nghị định số 11/2010/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm tra an toàn giao thông và bổ sung các Điều 12a, 12b, 12c, 12d, 12đ, 12e và 12g quy định về điều kiện, thủ tục công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ đào tạo thẩm tra viên an toàn giao thông
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
CÁC LĨNH VỰC KHÁC
27. Nghị định số 69/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.
“Mua bán nợ” được hiểu là việc bên bán nợ chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ và các quyền khác liên quan đến khoản nợ cho bên mua nợ và bên mua nợ trả tiền cho bên bán nợ.
“Kinh doanh dịch vụ mua bán nợ” là việc thực hiện liên tục một hoặc một số hoạt động liên quan đến việc mua bán nợ nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: Mua nợ, bán nợ, môi giới mua bán nợ, tư vấn mua bán nợ và dịch vụ sàn giao dịch nợ.
Theo Nghị định này, tổ chức (không phải là doanh nghiệp), cá nhân có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ phải thành lập doanh nghiệp (Điều 4).
Đối với doanh nghiệp đang hoạt động nếu muốn kinh doanh dịch vụ mua bán nợ phải làm thủ tục đăng ký bổ sung ngành nghề này theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, dịch vụ mua bán nợ thuộc ngành nghề kinh doanh có yêu cầu về vốn pháp định, cụ thể như sau: 5 tỷ đồng (nếu kinh doanh dịch vụ môi giới mua bán nợ, tư vấn mua bán nợ), 100 tỷ (nếu kinh doanh hoạt động mua bán nợ) và 500 tỷ (nếu kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch nợ).
Nghị định này không điều chỉnh hoạt động mua bán nợ của ngân hàng. Việc mua bán nợ của ngân hàng được thực hiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
28. Quyết định số 26/2016/QĐ-TTg ngày 1/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố hóa chất độc.
Quy chế này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cất giữ, bảo quản, vận chuyển, sử dụng hóa chất độc, các sự cố hóa chất độc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.
“Hóa chất độc” được hiểu là hóa chất có ít nhất một trong những đặc tính nguy hiểm sau: Độc cấp tính; độc mãn tính; gây kích ứng với con người; gây ung thư hoặc có nguy cơ gây ung thư; gây biến đổi gen; độc đối với sinh sản; tích lũy sinh học; ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy; độc hại đến môi trường. Danh mục hóa chất độc xem tại Phụ lục đính kèm Quyết định này.
“Sự cố hóa chất độc” là tình trạng rò rỉ, cháy, nổ, phát tán hóa chất độc gây hại hoặc có nguy cơ gây hại cho người, tài sản và môi trường.
Theo Quy chế này, cơ sở để xảy ra sự cố hóa chất độc có trách nhiệm báo cáo ngay đến một trong các cơ quan sau đây: (i) Chính quyền địa phương nơi gần nhất; (ii) Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn địa phương.
Đối với tổ chức, cá nhân gây ra hoặc phát hiện ra sự cố hóa chất độc trên biển có trách nhiệm báo cáo ngay cho một trong các cơ quan sau đây: (i) Các Đài thông tin duyên hải Việt Nam; (ii) Cảng vụ hàng hải gần nhất; (iii) Trung tâm phối hợp Tìm kiếm Cứu nạn Hàng hải khu vực (trong trường hợp yêu cầu cứu hộ, cứu nạn trên biển).
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
29. Nghị định số 66/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm.
Nghị định này quy định chi tiết điều kiện kinh doanh các ngành nghề bao gồm:
- Sản xuất, buôn bán thuốc BVTV; xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật; khảo nghiệm thuốc BVTV
- Khảo nghiệm giống cây trồng
- Nuôi động vật rừng thông thường
- Kinh doanh con giống, chăn nuôi tập trung gia súc, gia cầm; buôn bán thức ăn chăn nuôi; khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi
- Sản xuất giống thủy sản, nuôi trồng thủy sản; khảo nghiệm giống thủy sản; khai thác thủy sản
- Sản xuất thực phẩm; sơ chế, chế biến thực phẩm; buôn bán thực phẩm
Theo đó, đối với cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán thực phẩm phải đáp ứng điều kiện chung như sau: tách biệt với khu vực ô nhiễm môi trường, các khu tập trung, xử lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp, bệnh viện; chủ cơ sở và người sản xuất, chế biến, buôn bán thực phẩm phải có giấy xác nhận kiến thức ATTP (Điều 19, 21, 23).
Đối với xưởng sơ chế, chế biến thực phẩm phải bố trí theo quy tắc một chiều từ nguyên liệu đầu vào cho đến sản phẩm cuối cùng; phân luồng riêng đối với sản phẩm, phụ gia, vật liệu bao gói, phế thải. Các khu vực sau đây cũng phải bố trí riêng biệt: kho nguyên liệu, kho thành phẩm, khu vực sơ chế, chế biến, đóng gói thực phẩm, khu vực vệ sinh, khu thay đồ bảo hộ và khu vực phụ trợ liên quan (Điều 21).
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
Nghị định này bãi bỏ:
- Điểm a, b, d, đ khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 11, khoản 1, khoản 2 Điều 12; Điều 13; Điều 14; Điều 15 của Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/5/2005;
- Điểm h khoản 10, khoản 11, khoản 12, khoản 13 Điều 1 của Nghị định số 14/2009/NĐ-CP ngày 13/12/2009;
- Khoản 1, khoản 2, khoản 4, khoản 5 Điều 6; Điều 7; khoản 3 Điều 12 của Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/02/2016
30. Nghị định số 58/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự
Nghị định này ban hành 02 Danh mục bao gồm:
1/ Danh mục sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự (Phụ lục I)
2/ Danh mục sản phẩm mật mã dân sự phải có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu (Phụ lục II)
Ngoài ra, Nghị định này còn quy định chi tiết về điều kiện cấp phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và việc xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 và thay thế Nghị định số 73/2007/NĐ-CP ngày 08/5/2007.
31. Thông tư số 10/2016/TT-BCT ngày 1/7/2016 của Bộ Công thương hướng dẫn thực hiện một số điều của Hiệp định Thương mại biên giới giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Thông tư này hướng dẫn trình tự, thủ tục đăng ký thương nhân biên giới và điều kiện để được hưởng chính sách ưu đãi theo Hiệp định Thương mại biên giới Việt – Lào.
Theo đó, hồ sơ, thủ tục đăng ký thương nhân biên giới được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 52/2015/TT-BCT.
Khi nhập khẩu hàng hóa từ Lào, để được hưởng thuế suất ưu đãi, thương nhân phải xuất trình được Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu S do cơ quan có thẩm quyền của Lào cấp.
Đối với hàng hóa được đầu tư sản xuất, nuôi, trồng tại các tỉnh của Lào giáp biên giới Việt Nam khi nhập khẩu về phải có các giấy tờ sau đây:
- a) Xác nhận hàng hóa theo dự án của nhà đầu tư Việt Nam do Sở Công Thương cấp tỉnh biên giới hoặc Phòng Công Thương cấp huyện biên giới của Lào cấp;
- b) Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của Lào về kiểm dịch y tế, động vật, thực vật, thủy sản, kiểm tra chất lượng và kiểm soát về an toàn thực phẩm.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

